1- Các chỉ tiêu, thông số của Nhà máy
- Vị trí: trên sông Chảy.
- Diện tích lưu vực: 6.430km2.
-
Công suất lắp máy : 120MW.
- Chiều cao lớn nhất của đập: 48m.
- Chiều dài đỉnh đập: 657m.
- Thể tích đập: 1,33 triệu m3.
- Dung tích hữu ích của hồ chứa: 2.160.000.000 m3.
- Dung
tích toàn bộ của hồ chứa: 2.490.000.000 m3.
- Diện tích mặt hồ
ứng với MN bình thường: 235km2.
- Chiều dài lớn nhất của hồ chứa:
60km.
- Cao trình MNBT: +58,0
- Cao trình MN lũ 0,01%:
+61,0
- Cao trình MN lũ 0,1%: +59,65
- Cao trình MN lũ 1%:
+58,85
- Mực nước hết: +46,0
- Mực nước trước lũ: +50,3
- Khả năng xả lũ lớn nhất: 3.650m3/s.
2- Bối
cảnh lịch sử:
Nhà máy thuỷ
điện Thác Bà là đứa con đầu lòng của ngành thuỷ điện Việt Nam, là
nhà máy thuỷ điện được xây dựng đầu tiên ở miền Bắc nước ta trong thời
kỳ qúa độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ III, là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu
tranh giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước.
Quán triệt
tinh thần nghị quyết của đại hội với chủ trương “ Điện phải đi trước một
bước”. Đảng và Nhà nước ta đã quyết định xây dựng nhà máy thủy điện
Thác Bà trên dòng Sông Chảy, thuộc địa bàn huyện Yên Bình - Tỉnh Yên
Bái. Công trình thuỷ điện đầu tiên của Việt Nam do
sự giúp đỡ của nhà nước Liên Xô cũ nay là nước Cộng hoà liên Bang Nga.
- Công trình được khởi công xây dựng ngày
19/8/1964.
- Công suất thiết kế: 108 MW
- Sản lượng bình quân: 400 triệu kWh/năm.
Là một công
trình trọng điểm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần
thứ nhất của nước ta (1960 - 1965). Là nền móng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của
đất nước.
Nhà máy được
xây dựng trong thời kỳ đế quốc Mỹ tập trung mở rộng quy mô đánh phá ra
miền Bắc bằng không quân, hòng phá hoại công cuộc xây dựng CNXH của nhân
dân ta, ngăn cản sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với sự
nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
Ngày 9/7/1965
cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ lan rộng khắp miền Bắc, công
trường xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà là một trong những mục tiêu
trọng điểm đánhphá của máy bay Mỹ. Công trường xây dựng nhà máy liên tục
bị chiến tranh phá hoại của không lực Hoa Kỳ nên tiến độ bị chậm lại,
nhiều lúc phải dừng hẳn để đối phó đánh trả máy bay Mỹ. Mãi đến năm 1968
khi giặc Mỹ ngừng ném bòm công trường mới được tiếp tục xây dựng.
Ngày
22/2/1970 dòng Sông Chảy đã bị chặn lại bởi bàn tay và sức lao động của
con người.
Ngày
5/10/1971 sau buổi lễ long trọng Đồng chí Thủ tướng Chính phủ nước ta Lê
Thanh Nghị và đồng chí phó chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Liên Xô đã cắt
băng khánh thành và khởi động tổ máy số 1, chính thức phát điện lên lưới
điện Quốc gia.
Từ đó trở đi
ngày 5/10/1971 hàng năm trở thành ngày kỷ niệm truyền thống, ngày ra đời
lịch sử của nhà máy thuỷ điện Thác bà và cũng từ ngày đó dòng điện Thác
Bà đã bắt đầu toả sáng tiếp sức cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc,
đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước.
Trải qua gần
40 năm vừa xây dựng, chiến đấu và vận hành sản xuất, các thế hệ CBCNV
của nhà máy luôn nêu cao tinh thần đoàn kết nhất trí, không ngừng nỗ lực
phấn đấu vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng và
sản xuất cung ứng điện xây dựng nền kinh tế xã hội.
3- Những mốc
son lịch sử của Nhà máy:
+ Năm 1959 - 1961 khảo sát thiết kế công
trình.
+ Năm 1962 - 1964 xây dựng cơ sở hạ tầng và
đào hố móng công trình
+ Ngày 19/8/1964 khởi công xây dựng nhà máy
thuỷ điện Thác Bà.
Đ/c Phạm Văn
Đồng thủ tướng Chính phủ Nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà XHCN Việt Nam)
tham gia đổ bê tông đầu tiên xuống nền móng công trình.
+ Ngày 22/2/1970 ngày hội ngăn sông, nắn
dòng sông chảy qua các cửa tràn của Nhà máy. Đ/c Nguyễn Duy Trinh phó
Thủ tướng Chính phủ dự ngày hội ngăn sông.
+ Ngày 5/10/1971 lễ khánh thành và khởi động
phát điện tổ máy số 1, đ/c Lê Thanh Nghị Phó thủ tướng Chính phủ đã
tham gia khởi động tổ máy số 1 nhà máy bắt đầu phát điện lên lưới điện
Quốc gia.
+ Ngày 10/3/1972 khởi động tổ máy số 2.
+ Ngày 19/5/1972 khởi động chạy tổ máy số 3.
Nhà máy đi vào vận hành cả 3 tổ máy đạt công suất thiết kế.
+ Ngày 2/6/1972 Đế quốc Mỹ tăng cường ném
bom phá huỷ nhà máy bằng khoảng 2000 quả bom bi nổ chậm. Cán bộ CNV nhà
máy và công trường Thác Bà đã dũng cảm phối hợp nhặt bom bi, sử lý hậu
quả và khôi phục nhà máy trở lại vận hành và phát điện sau 48 giừo phải
ngừng máy.
+ Ngày 10/6/1972 Đế Quốc Mỹ lại huy động một
lực lượng lớn các loại máy bay để ném bom hòng huỷ diệt toàn bộ nhà
máy, làm nhiều thiết bị hư hỏng nặng.
+ Ngày 12/8/1972 đã khởi động chạy lại và
phát điện tổ máy số 2 với công suất thiết kế.
+ Ngày 22/4/1975 đã khởi động lại và phát
điện tổ máy số 3.
4- Quá
trình phát triển và trưởng thành của nhà máy:
Từ khi tiếp nhận và vận hành sản xuất. Nhà
máy đã nhanh chóng ổn định tổ chức, tiếp thu nhanh nhạy kỹ thuật quảnlý
vận hành để độc lập công tác. Công suất và sản lượng điện phát ra của
nhà máy trong thời kỳ chiến tranh và sau khi hoà bình lập lại chiếm 70%
sản lượng điện của hệ thống điện miền Bắc, góp phần quan trọng vào công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng CNXH của miền Bắc, đấu tranh
thống nhất nước nhà.
4.1- Hoạt động của
nhà máy trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Giai đoạn đầu đi vào hoạt động nhà máy vừa
sản xuất vừa tiếp tục lắp ráp các tổ máy số 2 và số 3, đồng thời vừa
chiến đấu chống lại sự phá hoại của máy bay Mỹ để bảo vệ nhà máy.
Khi nhận bàn giao vận hành phát điện tổ máy
số 1 nhà máy đã góp phần đáng kể cùng các nhà máy nhiệt điện trên miền
Bắc cung cấp điện có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế XHCN,
Quốc phòng an ninh. Với công suất của tổ máy là 36 MW nhà máy đã đóng
góp một phần quan trọng cho nước nhà nhất là khi một số nhà máy điện ở
miền Bắc bị bom Mỹ phá hỏng nặng.
Năm 1971 nhà máy được cấp trên giao kế hoạch
sản lượng điện là 35 triệu kWh nhà máy đã phấn đấu thực hiện được 38
triệu kWh, đây là một thành tích rất có ý nghĩa trong thời điểm bấy giờ,
đã chứng tỏ sự nỗ lực cố gắng rất cao của CBCNV nhà máy.
Ngày 10/3/1972 và ngày 19/5/1972 cả 2 tổ máy
số 2 và 3 được lắp đặt xong, sau khi chạy thử nghiệm các tổ máy được
bàn giao và đưa vào vận hành hết công suất 3 tổ máy là 108.000 kWH, sản
lượng điện của nhà máy chiếm 70% tổng sản lượng điện toàn miền Bắc lúc
đó.
Ngày 2/6/1972 máy bay Mỹ tiếp tục oanh tạc
vào nhà máy, chúng ném xuống hàng ngàn quả bom bi và bom phá, bom dải
dày đặc khu vực nhà máy với âm mưu phá hoại và huỷ diệt nhà máy thuỷ
điện non trẻ của chúng ta. Do nhà máy đã có kế hoạch sẵn sàng đánh trả
từ trước, đại đội tự vệ nhà máy đã hợp đồng tác chiến với Trung đoàn 254
- pháp phòng không bảo vệ nhà máy đánh trả quyết liệt buộc máy bay Mỹ
phải trút bom bừa bãi để tháo chạy.
Ngay sau khi máy bay Mỹ rút chạy, một đội
cảm tử của CBCNV nhà máy đã được thành lập để nhặt phá bom bi đảm bảo sự
an toàn cho thiết bị. Một công việc cực kỳ nguy hiểm, lúc này sự sống
và cái chết luôn ở kề bên nhau và đội quân cảm tử đã chiến thắng. Toàn
bộ số bom bi nổ chậm trong nhà máy và trạm OPY đã được thu nhặt an toàn,
các thiết bị máy móc được kiểm tra lại, khắc
phục nhanh những hư hỏng với khẩu hiệu “ Tổ quốc cần điện như cơ thể cần
máu”. Sau 2 ngày đêm liên tục sửa chữa và khắc phục hậu quả do bom Mỹ
phá hoại gây nên, CBCNV nhà máy đã đưa các tổ máy vào vận hành phát điện
bình thường.
Ngày 10/6/1972 giặc Mỹ tiếp tục huy động
không quân đánh phá nhà máy với quy mô lớn hơn trước trong đó có sử dụng
các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, bom laze, phương tiện chiến tranh
điện tử, hệ thống gay nhiễu cực mạnh.v.v. Trong đợt bắn phá này nhà máy
đã trúng bom và tên lửa làm gian máy bị xập đổ hoàn toàn, các tổ máy bị
hỏng nặng nhà máy lại phải thực hiện khắc phục hậu quả để phục hồi sản
xuất.
Sau 2 tháng nỗ lực làm việc liên tục không
quản khó khăn vất vả, hàng ngàn tấn bê tông cốt thép đã đưa các tổ máy
số 1 và số 2 vào vận hành ngay trong năm 1972.
Riêng tổ máy số 3 không thể khôi phục được
ngay vì toàn bộ các chi tiết máy còn dùng được đã tháo lắp để bổ xung
cho tổ máy số 1 và máy 2, nhà máy phải chờ đặt hàng gia công đơn chiếc
đột xuất tại Liên Xô, đến năm 1975 mới có thiết bị và tổ máy số 3 mới
khôi phục. Ngày 22/4/1975 nhà máy đã thực hiện phục hồi hoàn chỉnh tổ
máy số 3, ngày 15/6/1975 phục hồi hoàn chỉnh tổ máy số 2, ngày 15/7/1975
phục hồi hoàn chỉnh tổ máy số 1 và toàn nhà máy được xây dựng, củng cố
lại hoàn chỉnh theo đúng thiết kế.
4.2- Hoạt động của nhà máy thời kỳ quá độ cả
nước đi lên xây dựng CNXH.
Năm 1975 miền Nam được hoàn toàn giải
phóng, đất nước thống nhất, cả nước đi lên thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.
Trong giai đoạn lịch sử mới CBCNV nàh máy
được giao nhiệm vụ quản lý, vận hành nhà máy cùng các nhà máy điện trong
cả nước cung cấp điện cho công cuộc khôi phục nền kinh tế của đất nước
sau chiến tranh.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12
năm 1976 đề ra đường lối mở đầu thời kỳ cả nước đi lên CNXH. Trước những
nhiệm vụ to lớn mà Đảng ta đề ra càng khẳng định vai trò quan trọng của
ngành điện lực, thời điểm này nhà máy thuỷ điện Thác bà là nhà máy điện
lớn nhất miền Bắc. Trong khi các nhà máy điện Phả lại, Hoà Bình chưa đi
vào sản xuất, nhà máy thuỷ điện Thác Bà phải vận hành liên tục cả 3 tổ
máy, phát huy hết công suất, khai thác triệt đeer khả năng của thiết bị
và lượng nước hồ chứa.
Năm 1978 theo đề xuất của nhà máy được sự
nhất trí của cấp trên CBCNV nhà máy đã cùng với chuyên gia Liên xô
nghiên cứu, thí nghệm và thực hiện thành công việc thử nghiệm nâng công
suất của nhà máy từ 108 MW lên 120 MW. Trong hoàn cảnh đất nước vừa bước
ra khỏi cuộc chiến tranh, còn rất nhiều khó khăn việc nâng công suất
của nhà máy thêm 12 MW là một thành quả đặc biệt quan trọng, công suất
này tương đương với một nhà máy nhiệt điện mà ta xây dựng trong thời kỳ
miền Bắc xây dựng CNXH.
Giai đoạn này nhà máy phấn đấu sản xuất liên
tục vượt kế hoạch sản lượng điện được giao, được Đảng và nhà nước trao
tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Lòng
hồ Thác Bà
4.3-
Hoạt động của nhà máy thời kỳ đất nước thực hiện công cuộc đổi
mới.
Từ năm 1990 khi các tổ máy của nhà máy thuỷ
điện Hoà Bình đi vào hoạt động, nhà máy thuỷ điện Thác Bà mới có điều
kiện tích nước hồ chứa nhiều hơn.
Từ năm 1991 cấp trên thực hiện giao tài sản
cố định và vốn cho nhà máy tự sản xuất - kinh doanh, nhà máy phải đi vào
thực hiện việc chuyển đổi cơ chế quản lý mới.
Trên cơ sở đó, nhà máy đã dần khắc phục
những tồn tại, khó khăn trong sản xuất, từng bước
nâng cao đời sống của CBCNVC. Qua hơn mười năm thực hiện cơ chế quản lý
mới cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đất nước, đó
cũng là thời gian nhà máy không ngừng nâng cao thành tích trên mọi lĩnh
vực sản xuất và công tác. Từ năm 1990 đến năm 2001 nhà máy liên tục hoàn
thành vượt mức kế hoạch sản lượng điện được giao từ 5 - 15%.
Nhà máy thủy điện Thác Bà là nhà máy điện
duy nhất trong ngành vận hành liên tục 25 năm không để xảy ra tai nạn
lao động hoặc sự cố gây chết người hoặc hư hỏng thiết bị chính (1971 -
1996).
Trong 5 năm cuối của thế kỷ XX được sự quan
tâm đầu tư của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nhà máy đã từng bước
được cải tạo toàn diện. Đã thực hiện thay thế nâng cấp khá nhiều thiếtbị
mới như: Thay thế toàn bộ hệ thống máy cắt không khí của Liên Xô bằng
loại máy cắt mới SF- 6- 110kV hiện đại, thay thế toàn bộ hệ thống rơle
kỹ thuật số của Đức, hệ thống chống sét van 110kV, các biến điện áp 110
và 35kV, máy biến áp T2, tổng đài điện tử kỹ thuật số, tổng đài điều độ,
tải ba, hệ thống thông gió điều nhiệt...Sửa chữa lớn các công trình
thuỷ công, công trình kiến trúc như: Sân tiêu năng, bờ trái hạ lưu. Xây
dựng mới nhà điều hành sản xuất, cải tạo các công trình phúc lợi công
cộng nhà trẻ mẫu giao, câu lạc bộ băn hoá - thể thao. Thực hiện cải tạo
môi trường cảnh quan làm cho diện mạo nhà máy ngày càng khang trang, đẹp
đẽ. Các thiết bị mới, các công trình được cải tạo đều đảm bảo tốt chất
lượng đưa vào vận hành an toàn hiệu quả. Những thành quả đó đã thực sự
trở thành sự kết dính cán bộ - CNVC nàh máy bền vững hơn.
Tuy vậy vấn đề cốt lõi vẫn chưa được giải
quyết, đó là cần phải sửa chữa nâng cấp bản thể 3 tổ máy, nhà máy mới có
thể yên tâm quản lý vận hành liên tục, hiệu quả và ổn định. Hiện nay
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đã duyệt kế hoạch cho nhà máy sửa chữa
lớn, khôi phục toàn diện thiết bị tập trung vào các tổ máy để có thể
tiếp tục vận hành trong một chu kỳ 20 -30 năm tiếp theo. Đó là một cơ
hội lớn cũng là một thách thức lớn, nhiệm vụ hết sức khó khăn trong cơ
chế thị trường hiện nay. Lập dự án như thế nào là khả thi, chọn hãng
nào, thiết bị của ai để đảm bảo an toàn, hiệu quả và tiết kiệm vốn, quả
thực là những câu hỏi khó, cần phải suy nghĩ kỹ và cần phát huy trí tuệ
tập thể mới có thể trả lời chính xác. Để vượt qua nhiệm vụ khó khăn đó,
mong muốn rằng với sự quan tâm và đầu tư thích đáng của Tổng Công ty và
sự ủng hộ của tỉnh, của huyện bằng sức lao động sáng tạo của mình, tập
thể CBCNV nhà máy sẽ tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng và tinh
thần đoàn kết sẵn có, lôn phấn đấu thi đua lao động sản xuất tốt, để xây
dựng nhà máy ngày càng hiện đại, tôn tạo công trình lịch sử đẹp mãi,
xứng danh với danh hiệu dơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân,
lòng mong ước của những thế hệ cha anh đã đổ mồ hôi, nước mắt và xương
máu cho công trình này.
Những năm gần đây, mặc dù máy móc thiết bị
và các công trình thuỷ công của Nhà máy đã xuống cấp, xuất hiện nhiều
thiếu sót, hư hỏng, trong khi đó các phương tiện vật tư, phụ tùng thay
thế vừa thiếu thốn vừa không đồng bộ. Cán bộ CNVC nhà máy đã phát huy
tình thần tự lực, tự cường, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn để tự
nghiên cứu sửa chữa thiết bị và công trình, bình quân hàng năm có từ 20-
30 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để nâng cao năng
suất lao động, đảm bảo vận hành an toàn, khai thác tốt khả năng của
thiết bị và hồ chứa.
Có nhiều đề tài khoa học và sáng kiến có giá
trị như:
- Thử nghiệm xác minh nâng công suất của nhà
máy từ 108 MW lên 120 MW.
- Tự thiết kế và lắp đặt đưa 3 tổ máy vào
làm việc ở chế độ bù đồng bộ.
- Nghiên cứu xây dựng đề tài bồi lắng hồ
chứa.
- Nghiên cứu cải tạo lại hệ thống cung cấp
khí nẽn, đã ngăn chặn được sự cố nổ máy ngắt không khí.
- Tự biên soạn, chỉnh lý hàng trăm loại quy
trình vận hành, quy chế quản lý phục vụ cho sản xuất và công tác.